|
Đối với dịch vụ chuyển phát thì do các doanh nghiệp (DN) thuộc mọi thành phần kinh tế có đủ điều kiện (sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép đối với dịch vụ chuyển phát thư hoặc thông báo đối với các dịch vụ chuyển phát khác). Như vậy, việc tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ bưu chính và dịch vụ chuyển phát nói chung, chuyển phát thư nói riêng có Bưu chính Việt Nam và sự xuất hiện của nhiều thành phần kinh tế khác.
1. Thị trường dịch vụ chuyển phát: Theo Nghị định 128/2007/NĐ-CP ngày 2/8/2007 về dịch vụ chuyển phát (thay thế các nội dung liên quan tại Nghị định 157/2004/NĐ-CP và Thông tư 01/TT- BBCVT) quy định: Dịch vụ chuyển phát là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn thu gom, chia chọn, vận chuyển và phát, bằng các phương tiện vật lý, thông tin dưới dạng văn bản và kiện, gói hàng hóa. Dịch vụ chuyển phát được chia thành: Chuyển phát thường và chuyển phát nhanh (CPN) - Chuyển phát thường là dịch vụ chuyển phát được hiểu như định nghĩa; - CPN là dịch vụ chuyển phát có yếu tố nhanh về thời gian và có độ tin cậy cao. CPN còn bao gồm yếu tố giá trị gia tăng khác như thu gom tại địa chỉ người gửi, phát tận tay người nhận, truy tìm và định vị, khả năng thay đổi nơi nhận và địa chỉ nhận trong khi đang vận chuyển, báo phát và các yếu tố giá trị gia tăng khác.
Mạng chuyển phát là một khái niệm mới được đưa vào trong Pháp lệnh BCVT, là mạng do DN thuộc mọi thành phần kinh tế xây dựng và quản lý để cung cấp dịch vụ chuyển phát thư theo quy định của pháp luật về bưu chính và pháp luật về vận chuyển hàng hoá. Việc quy định về mạng chuyển phát là do những thay đổi về quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với việc phân loại dịch vụ, DN hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính và việc mở cửa thị trường bưu chính đối với các DN thuộc mọi thành phần kinh tế.
Là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện được quy định trong Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Đầu tư “Xây dựng mạng bưu chính công cộng, cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát” (Mục 5 Phụ lục C) nên việc mở cửa thị trường dịch vụ chuyển phát sẽ còn phụ thuộc vào lộ trình mà Việt Nam đã cam kết đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo đó:
- Với dịch vụ CPN, đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với các nước, Việt Nam đã cam kết cho phép thành lập liên doanh 51% vốn đầu tư nước ngoài ngay khi gia nhập và cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài năm năm sau khi gia nhập. Để tạo điều kiện cho Bưu chính Việt Nam phát triển ổn định sau khi tách khỏi lĩnh vực viễn thông, thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp dịch vụ bưu chính công ích, Việt Nam đã đàm phán bảo lưu được một mảng dịch vụ CPN dành riêng, có ý nghĩa thương mại, cho bưu chính Việt Nam kinh doanh. Đó là kinh doanh chuyển phát thông tin dưới dạng văn bản, kể cả thông tin dưới dạng không đóng gói dán kín, bao gồm cả thông tin quảng cáo trực tiếp. Hai tiêu chí xác định phạm vi dành riêng là khối lượng: dưới 2kg và giá cước: 10 lần giá cước một bức thư tiêu chuẩn gửi trong nước ở nấc khối lượng đầu tiên và thấp hơn 9 đô la Mỹ (9 USD) khi gửi quốc tế.
- Đồng thời, phù hợp với định hướng xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, Việt Nam cũng đã cam kết không phân biệt đối xử giữa các dịch vụ CPN và các nhà cung cấp dịch vụ CPN, kể cả Bưu chính Việt Nam, đối với các loại hình dịch vụ CPN đã cho phép cạnh tranh.
2. Phạm vi dành riêng: Để bảo đảm cho việc cung cấp hiệu quả dịch vụ bưu chính công ích, Bưu chính Việt Nam được dành riêng cung ứng dịch vụ thu gom, chia chọn, vận chuyển và phát, bằng các phương tiện vật lý, thông tin dưới dạng văn bản có địa chỉ nhận (bao gồm cả dịch vụ chuyển phát có lai ghép và dịch vụ chuyển phát thông tin quảng cáo trực tiếp), có khối lượng đơn chiếc không quá 02 kg và với mức cước thấp hơn: - 8.000 VNĐ/chiếc đối với dịch vụ chuyển phát trong nước và đối với công đoạn phát trong lãnh thổ Việt Nam của dịch vụ chuyển phát quốc tế chiều đến; - 150.000 VNĐ/ chiếc đối với dịch vụ chuyển phát quốc tế chiều từ Việt Nam đi nước ngoài. Phạm vi dành riêng không bao gồm việc cung ứng dịch vụ chuyển phát sách, báo, tạp chí và ấn phẩm đinh kỳ. Như vậy, các DN chuyển phát khác được phép cung cấp dịch vụ chuyển phát thông tin dưới dạng văn bản có địa chỉ nhận ngoài mức khối lượng và giá cước dành riêng cho Bưu chính Việt Nam.
II. CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG CUNG CẤP DỊCH VỤ Mô hình thị trường bưu chính ở nước ta đã có một số thay đổi theo hướng thị trường mở đối với lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bưu chính và dịch vụ chuyển phát.
1. Theo thông lệ quốc tế: Việc tổ chức thị trường bưu chính tại các nước trên thế giới thường được thực hiện theo ba loại mô hình như sau: - Mô hình thứ nhất: Nhà nước hoàn toàn làm chủ thị trường bưu chính, có nghĩa là chỉ có một DN bưu chính duy nhất thực hiện hoạt động khai thác kinh doanh dịch vụ bưu chính.
- Mô hình thứ hai: Thực hiện mở cửa thị trường hoàn toàn trong lĩnh vực bưu chính, nghĩa là có nhiều DN thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính theo quy định của pháp luật, các DN bình đẳng về mặt pháp lý và cạnh tranh lành mạnh, không có bất cứ cơ chế ưu đãi riêng cho một DN nào.
- Mô hình thứ ba: Mở cửa một phần thị trường bưu chính - có nghĩa là có nhiều DN thuộc các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bưu chính nhưng vẫn có một DN của Nhà nước giữ vai trò là DN chủ đạo trong hoạt động khai thác kinh doanh dịch vụ bưu chính. Xuất phát từ điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay, Pháp lệnh BCVT và Nghị định 128/2007/NĐ-CP đã quy định hai loại DN khai thác kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính, đó là Tổng công ty Bưu chính Việt Nam và DN thuộc mọi thành phần kinh tế kinh doanh dịch vụ chuyển phát (bao gồm cả chuyển phát thư).
2. Bưu chính Việt Nam Pháp lệnh BCVT và Nghị định số 157/2004/NĐ-CP quy định: Bưu chính Việt Nam là DN nhà nước duy nhất về bưu chính, thực hiện chức năng kinh doanh theo quy định của pháp luật và thực hiện nhiệm vụ công ích theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển bưu chính của Nhà nước và những nhiệm vụ công ích khác theo yêu cầu đột xuất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Bưu chính Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là VIETNAM POST và là DN duy nhất được sử dụng cụm từ “Bưu chính Việt Nam”. Bưu chính Việt Nam có nghĩa vụ thiết lập mạng bưu chính công cộng rộng khắp trong cả nước theo quy hoạch đã được phê duyệt để cung cấp dịch vụ bưu chính công ích và các dịch vụ khác.
Bưu chính Việt Nam có trách nhiệm báo cáo với Bộ Bưu chính, Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) về việc sử dụng mạng bưu chính công cộng để kinh doanh các dịch vụ tài chính, tiết kiệm, chuyển tiền, phát hành báo chí và các dịch vụ khác. Bưu chính Việt Nam có nghĩa vụ tạo điều kiện cho các DN kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư được kết nối vào mạng bưu chính công cộng trên cơ sở hợp đồng.
Bưu chính Việt Nam là DN tham gia hoạt động cung cấp dịch vụ bưu chính quốc tế, các dịch vụ khác trong khuôn khổ các Điều ước quốc tế của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) và các Điều ước quốc tế khác trong lĩnh vực bưu chính mà Việt Nam ký kết, gia nhập. Bưu chính Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các quy định liên quan theo yêu cầu của UPU và của Bộ Thông tin và Truyền thông.
3. DN kinh doanh dịch vụ chuyển phát Theo quy định tại Nghị định 157/2004/NĐ-CP ngày 18/8/2004, các DN thuộc mọi thành phần kinh tế chỉ có thể tham gia cung cấp dịch vụ chuyển phát thư sau khi được Bộ Thông tin và Truyền thông thẩm định và cấp Giấy phép (không bao gồm tham gia các dịch vụ chuyển phát khác ngoài thư) bên cạnh đó muốn tham gia dịch vụ chuyển phát thư DN phải đáp ứng các điều kiện khắt khe: Phải có kinh nghiệm tối thiểu 5 năm trong lĩnh vực bưu chính hoặc chuyển phát thư (trong nước) và có kinh nghiệm tối thiểu 5 năm trong lĩnh vực bưu chính hoặc chuyển phát thư (quốc tế), trong một số trường hợp sẽ phải tiến hành thử nghiệm cung cấp dịch vụ…
Nhằm tạo điều kiện cho các DN thuộc mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia cung cấp dịch vụ chuyển phát (bao gồm chuyển phát thư), Nghị định 128/2007/NĐ-CP đã đơn giải hóa điều kiện cấp phép đồng thời có sự phân cấp rõ ràng trong việc cấp phép cho các Sở BCVT thực hiện trong phạm vi nội tỉnh; theo đó: DN thuộc mọi thành phần kinh tế có đủ điều kiện được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư [1] (trong nước và quốc tế); được kinh doanh dịch vụ chuyển phát khác sau khi thực hiện thông báo. DN được kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư nằm ngoài phạm vi dịch vụ bưu chính dành riêng nêu tại điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định số 157/2004/NĐ-CP.
3.1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư - Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ chuyển phát hoặc Giấy chứng nhận đầu tư trong lĩnh vực chuyển phát tại Việt Nam theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 của Nghị định; - Có đề án kinh doanh; - Có các biện pháp, điều kiện để đảm bảo an toàn, an ninh trong hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát; - Người đại diện hợp pháp của DN kinh doanh dịch vụ chuyển phát có kinh nghiệm tối thiểu 01 năm trong lĩnh vực bưu chính hoặc chuyển phát.
3.2. Điều kiện kinh doanh dịch vụ chuyển phát: DN thành lập theo pháp luật Việt Nam được kinh doanh dịch vụ chuyển phát khi: Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ chuyển phát đối với DN có vốn đầu tư trong nước hoặc có Giấy chứng nhận đầu tư trong lĩnh vực chuyển phát tại Việt Nam đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài với phần vốn góp của bên nước ngoài tối đa đến 51% (DN có vốn đầu tư nước ngoài với phần vốn góp của bên nước ngoài trên 51%, DN 100% vốn nước ngoài được kinh doanh dịch vụ chuyển phát kể từ ngày 11/01/2012).
3.3. Hồ sơ và thủ tục cấp phép/thông báo: Thủ tục gia nhập thị trường của DN (theo Nghị định 128/2007/NĐ-CP)

4. Các hình thức tham gia thị trường cung cấp dịch vụ khác: a. Đại lý dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát thư Theo quy định của Pháp lệnh BCVT: Đại lý dịch vụ bưu chính, đại lý dịch vụ chuyển phát thư là tổ chức, cá nhân Việt Nam nhân danh DN bưu chính, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát thư cho người sử dụng thông qua hợp đồng đại lý để hưởng hoa hồng. Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản; cụ thể hoá nội dung này Nghị định 157/2004/NĐ-CP quy định “Tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế làm đại lý cho Bưu chính Việt Nam, đại lý cho DN kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư phải ký hợp đồng đại lý với Bưu chính Việt Nam hoặc DN kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư”. Như vậy, điều kiện tham gia làm Đại lý và nội dung Hợp đồng Đại lý về cơ bản theo quy định của pháp luật hiện hành.
b. Chi nhánh, Văn phòng đại diện (VPĐD) Chi nhánh và VPĐD là các đơn vị phụ thuộc của DN, sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật DN và Luật Thương mại trong hoạt động. Trong việc cung cấp các dịch vụ Bưu chính, chuyển phát phải bảo đảm điều kiện kinh doanh và DN phải có nghĩa vụ thông báo tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan cấp phép) trong trường hợp mở Chi nhánh, VPĐD có cung cấp các dịch vụ liên quan. Việc tham gia thị trường của Chi nhánh, VPĐD của DN nước ngoài sẽ căn cứ vào lộ trình mà Việt Nam đã cam kết. (1) Thư là thông tin trao đổi dưới dạng văn bản được đóng gói, dán kín, có khối lượng đơn chiếc không quá hai kilôgram (2kg) và có địa chỉ nhận. Những chỉ dẫn chung về nơi nhận cũng được coi là địa chỉ nhận.
|